BỆNH VIÊM MÀNG NÃO DO NÃO MÔ CẦU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

04/03/2016 22:35

         Bệnh viêm màng não do não mô cầu hay còn gọi là bệnh nhiễm khuẩn não mô cầu, là một bệnh dễ lây, nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao. Bệnh thường xuất hiện vào mùa đông xuân và có thể gây thành dịch lớn. Trong năm 2015 và những tháng đầu năm 2016 ghi nhận các trường hợp mắc bệnh tại nhiều tỉnh thành như TP HCM, Sơn La, Hòa Bình, Gia Lai, Nam Định, Lạng Sơn, Hải Dương...

         Viêm màng não do não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn não mô cầu có tên là Neisseria meningitides. Trên thực tế khi nhiễm vi khuẩn này có thể xuất hiện nhiều thể bệnh khác nhau như viêm mũi họng, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, viêm phổi, tổn thương ở nhiều cơ quan.
         Trên thế giới mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp viêm màng não do não mô cầu được báo cáo với khoảng 50.000 trường hợp tử vong. Tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao là trẻ em từ 6 tháng đến 3 tuổi và thanh thiếu niên từ 14-20 tuổi .
         Việt Nam nằm trong vùng lưu hành của bệnh và đã từng ghi nhận những vụ dịch viêm màng não do não mô cầu lớn vào các năm 1939-1940 tại miền Bắc, 1973 trong 1 trại huấn luyện tân binh ở miền Nam. Năm 1977-1978 tại nhiều tỉnh phía Nam. Năm 1992-1993 dịch xẩy ra tại Mèo Vạc, Hà Giang với 338 người mắc và 69 người chết với nhóm tuổi mắc cao nhất là trẻ dưới 15 tuổi( 57% ). Trong những năm gần đây mỗi năm ghi nhận khoảng 300-400 trường hợp mắc bệnh trên địa bàn nhiều tỉnh ở tất cả các miền. Đây là một trong những bệnh tryền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao nhất.
         Tác nhân gây bệnh viêm màng não do não mô cầu là Vi khuẩn có tên Neisseria meningitidis, được Weichselbaum phát hiện vào năm 1887. Hiện biết có 13 typ huyết thanh của vi khuẩn này được ký hiệu theo vần chữ cái A,B,C... Trong số 13 type huyết thanh thì các typ A,B,C,Y,W-135 là phổ biến nhất vì chúng gây ra tới 90% các trường hợp viêm màng não do não mô cầu được báo cáo trên toàn thế giới. Tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á typ gây bệnh phổ biến là nhóm B và C.

Phương thức lây truyền bệnh:

         Người vừa đóng vai trò mang mầm bệnh vừa là nguồn phát tán mầm bệnh, nhiều khi lên đến 40% và trong những điều kiện thuận lợi trở thành nguồn lan truyền bệnh. Vi khuẩn gây bệnh cư khu trú tại vùng họng mũi của người bệnh và lây truyền sang người khác qua tiếp xúc với các giọt chất dịch tiết ra do người bệnh ho,  hắt hơi. Vi khuẩn không có khả năng tồn tại lâu dài ngoài môi trường.
         Bệnh thường xẩy ra vào mùa đông và đầu xuân ở các nước ôn đới và giao mùa giữa mùa khô và mưa ở các nước nhiệt đới. Ở Việt Nam bệnh có thể xuất hiện quanh năm song chủ yếu vào mùa thu, mùa đông và mùa xuân

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:

         Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào người lành có thời gian ủ bệnh 3-10 ngày, trung bình 3-5 ngày sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh. Triệu chứng bệnh phụ thuộc vào mức độ xâm nhập và con đường xâm nhập của vi khuẩn não mô cầu vào các cơ quan khác nhau
         Mầm bệnh vào cơ thể bằng đường hô hấp trên, vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, sau đó vào màng não tuỷ gây viêm màng não tuỷ cấp tính có mủ. Vi khuẩn vào khớp gây viêm khớp, vào tim gây viêm màng trong tim, nhưng quan trọng nhất là viêm màng não tuỷ có mủ sinh dịch. Không phải tất cả các trường hợp nhiễm màng não cầu khuẩn đều có biểu hiện lâm sàng điển hình là viêm màng não tuỷ cấp tính có mủ, nhiều trường hợp vi khuẩn qua máu (bacteremia) nhưng không tới được màng não để gây viêm ở đó mà bệnh nhân chỉ bị sốt và viêm mũi họng.
         Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, trẻ sơ sinh, tuổi thanh thiếu niên là những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao. Đây là bệnh cấp tính với dấu hiệu bắt đầu rất đột ngột như đau đầu dữ dội, sốt cao, buồn nôn , nôn, sợ ánh sáng và cứng gáy. Ở trẻ nhỏ có thể các triệu chứng bệnh không điển hình nhưng khi bệnh có dấu hiệu nặng thì trẻ sốt li bì, vật vã, mê sảng, co giật, trên da có những mảng màu hồng hoặc tía khi đè ngón tay lên màu không mất đó cũng là dấu hiệu điển hình của xuất huyết và tiến triển hôn mê. Cần phải đưa bệnh nhân cấp cứu vào bệnh viện để được điều trị sớm mới tránh khỏi tử vong.
         Bệnh viêm màng não do não mô cầu có khả năng gây tử vong cao trong vòng 48 giờ nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết và viêm màng não. Nhưng nếu được điều trị bằng kháng sinh nhạy cảm với vi khuẩn thì tỷ lệ tử vong sẽ giảm đi còn 5 đến 15%.
 

Các thể bệnh của não mô cầu:
         Cần lưu ý có một tỷ lệ lớn người nhiễm khuẩn mầm bệnh nhưng không có biểu hiện lâm sàng và trở thành người lành mang trùng hoặc chỉ ở thể bán lâm sàng với các dấu hiệu viêm niêm mạc hầu họng dễ bỏ qua.
         Các thể nặng của bệnh như viêm màng não- não; Nhiễm trùng huyết; Ban xuất huyết;
         Thể hiếm gặp hơn như viêm khớp (khoảng 2-16%) bao gồm viêm khớp đơn độc, viêm đa khớp cấp xuất hiện trong 2,3 ngày đầu cùng với viêm não hoặc nhiễm trùng huyết. Viêm màng tim ( khoảng 2-20% ) gồm thể đơn độc, đây là thể tràn mủ màng tim có chèn ép.
         Viêm nắp thanh quản tối cấp, hiếm khi xẩy ra, bệnh nhân có các triệu chứng dau họng, khó nuốt, sốt, nói nghẹn, mô trên thanh môn xưng phù.
         Viêm đường tiết niệu thường gặp trên bệnh nhân đồng tính nam
 
Bệnh nhân bị viêm màng não do mô cầu thể xuất huyết

 
         Về nguyên tắc điều trị, Bộ Y tế nêu rõ là cần sử dụng kháng sinh sớm (chọn và liều lượng các loại thuốc kháng sinh cụ thể như PenicillinG, Ampicillin, hoặc Cefotaxim, Ciprofloxacin…), hồi sức tích cực và cách ly người bệnh
         Do mức độ nguy hiểm của bệnh và vi khuẩn gây bệnh đã kháng nhiều kháng sinh thông thường nên bệnh nhân cần được cách ly, nhập viện sớm và điều trị tích cực theo chỉ định của các bác sỹ chuyên khoa.
         Những người có tiếp xúc gần gũi với người bị bệnh não mô cầu nên uống thuốc kháng sinh càng sớm càng tốt để ngăn ngừa bệnh nặng và hạn chế lây nhiễm sang người khác. Nên theo dõi những triệu chứng của bệnh não mô cầu trong 10 ngày sau lần tiếp xúc với người bệnh, ngay cả khi họ đã dùng thuốc kháng sinh để phòng nhiễm bệnh.

Chẩn đoán bệnh viêm màng não do não mô cầu cần dựa trên yếu tố cơ bản như

         Triệu chứng lâm sàng: Sốt cao, đau đầu dữ dội, buồn nôn và nôn, cứng gáy;
         Xét nghiệm: Bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao; Dịch não tuỷ đục;
         Dấu hiệu dich tễ học: Người có tiếp xúc với bệnh nhân hoặc ở trong vùng dịch, đến vùng dịch trước đó.
         Chẩn đoán xác định: Trong phòng thí nghiệm là phân lập được cầu khuẩn màng não trong dịch não tuỷ hoặc trong máu.
         

Phương pháp phòng bệnh hiệu quả tại cộng đồng và cá nhân
         Cần kết hợp đầy đủ các biện pháp giám sát thường xuyên các ổ dịch tại cộng đồng, phát hiện dịch sớm, thực hiện  biện pháp cách ly, dập dịch, biện pháp phòng bệnh chủ động bằng văc xin, cụ thể:
          
Giám sát dịch tễ học

         Các cơ sở y tế chức năng cần giám sát định kỳ hoặc đột xuất các ổ dịch cũ, các vùng lưu hành bệnh. Đặc biệt vào mùa dịch cần phát hiện sớm ca bệnh nghi ngờ, hoặc phát hiện các nhóm huyết thanh của vi khuẩn gây bệnh đang lưu hành ở địa phương hoặc đánh giá tính kháng kháng sinh của vi khuẩn. Cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc phát hiện các ca bệnh nghi ngờ thông báo cho y tế để có biện pháp can thiệp sớm.
 
Kiểm soát dịch bệnh

         Để hạn chế tác hại của dịch bệnh cần tăng cường kiểm soát dịch bệnh; Đặc biệt vào mùa dịch, các vùng lưu hành bệnh, các ổ dịch cũ nhằm phát hiện sớm các ca bệnh và cách ly tránh lây lan. Sử dụng các trang bị bảo hộ cá nhân khi tiếp xúc bệnh nhân; Vệ sinh cá nhân như rửa tay xà phòng, vệ sinh răng miệng thường xuyên... Điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc gần. Tẩy uế, sát trùng trong vùng dịch và hạn chế hội họp, tập trung đông người trong vùng dịch. Tăng cường tuyên truyền, vận động trong cộng đồng về các biện pháp phòng bệnh.

Phòng bệnh chủ động bằng văc xin

         Biện pháp phòng bệnh bằng văc xin là hết sức hiệu quả và chủ động. Hiện nay đã có văc xin phòng viêm màng não do não mô cầu typ A+C, A+C+W-135, B+C, A. Văc xin có thể tiêm phòng cho trẻ từ 2 tuổi trở lên với đường tiêm bắp hoặc dưới da. Đáp ứng kháng thể đạt mức độ bảo vệ sau 2-3 tuần kể từ khi tiêm. 3 năm sau mũi tiêm đầu tiên cần tiêm nhắc 1 liều duy nhất để kháng thể bảo vệ được tăng cường và duy trì lâu dài.
         Đối tượng tiêm vắc xin là những người trong độ tuổi nguy cơ như trẻ em, thanh thiếu niên trước 20 tuổi ở trường học, doanh trại quân đội, công trường, cán bộ y tế sống và làm việc trong vùng bệnh lưu hành, trong các ổ dịch cũ và tại những nơi đang xẩy dịch. Văc xin có tỷ lệ bảo vệ rất cao, trên 90% người tiêm văc xin có kháng thể bảo vệ, tại Mỹ trước khi có tiêm phòng văc xin tỷ lệ mắc bệnh trong quân đội Mỹ là khoảng 450/100.000 người, sau 30 năm triển khai tiêm văc xin, tỷ lệ này chỉ còn vài trường hợp.
         Về cơ bản vắc xin rất an toàn, chủ yếu là các dấu hiệu đỏ, đau hay sốt nhẹ sau tiêm, rất ít gặp các trường hợp phản ứng nặng.  Những phản ứng toàn thân như đau đầu, sốt, mệt mỏi gặp rất hãn hữu. Phản ứng nặng hơn như dị ứng mày đay, khó thở. Động kinh, mất cám giác rất hiếm. Không nên tiêm văc xin cho những người có phản ứng dị ứng nặng đối với một thành phần nào đó trong văc xin hoặc đã có phản ứng nặng trong lần tiêm đầu.Cần thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ Y tế về tiêm chủng văc xin.
         Văc xin phòng bệnh viêm màng não do não mô cầu vẫn chưa được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng miễn phí, người dân phải tự chi trả khi tiêm.Tuy nhiên việc chi phí tiêm vắc xin để ngăn ngừa bệnh sẽ hiệu quả về sức khoẻ và kinh tế hơn rất nhiều so với điều trị khi bị mắc bệnh. Hầu hết các cơ sở y tế dự phòng các tỉnh đều có văc xin phòng bệnh viêm màng não do não mô cầu để tiêm cho các đối tượng cần tiêm để phòng bệnh. 
 
PGS. TS. Đinh Kim Xuyến
Viện ICCVB
Các tin khác: